Giỏ hàng

Huy động nguồn vốn bền vững cho nền kinh tế và doanh nghiệp

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định số 252/2012/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2011-2020, Quyết định số 1191/QĐ-TTg phê duyệt lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2030. 

Chiến lược phát triển Thị trường chứng khoán giai đoạn 2011-2020

Theo các quyết định trên, phấn đấu đưa tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu vào năm 2020 đạt khoảng 70% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu đạt khoảng 45% GDP vào năm 2020 và khoảng 65% GDP vào năm 2030.

  • Mục tiêu chung: Bảo đảm nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế và DN, hướng tới xây dựng thị trường tài chính phát triển nhanh, bền vững; bảo đảm cân bằng giữa huy động vốn giữa thị trường tín dụng và thị trường vốn.
  • Mục tiêu cụ thể: Tăng nhanh số lượng DN niêm yết trên TTCK và nguồn vốn huy động trên TTCK; giúp DN huy động vốn trung và dài hạn với chi phí thấp, thực hiện quản trị DN hiện đại theo chuẩn mực quốc tế hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và kinh doanh hiệu quả; bảo đảm tính an toàn cho hệ thống NHTM.

Giải pháp huy động nguồn vốn cho doanh nghiệp

Giải pháp huy động nguồn vốn cho doanh nghiệp

Từ các cơ sở trên, tác giả đề xuất các giải pháp cụ thể như sau:

Minh bạch thông tin và áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế

Cần có những quy định cụ thể hơn, đồng bộ hơn về minh bạch thông tin DN và đánh giá tín nhiệm DN làm căn cứ để Nhà nước, DN, nhà đầu tư có căn cứ chính xác để đưa ra các quyết định quản lý và đầu tư. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các tổ chức định mức tín nhiệm là một yếu tố quan trọng để TTCK phát triển an toàn, lành mạnh và bền vững.

Thực hiện chuẩn hóa chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS). Chuẩn mực kế toán Việt Nam thực hiện từ đầu năm 2000, đến nay sau nhiều lần bổ sung, hoàn thiện vẫn bộc lộ nhiều bất cập như: chưa kịp thời bổ sung các khác biệt theo chuẩn mực kế toán quốc tế; áp dụng chung cho tất cả DN (kể cả DN lớn, DN nhỏ, DN niêm yết hay không niêm yết trên TTCK...); chưa thống nhất giữa chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán... Việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế là xu hướng phù hợp với việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho DN có thể niêm yết trên TTCK quốc tế.

Quy định hạn mức huy động theo vốn điều lệ đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM

Hiện nay, Chính phủ chỉ quy định vốn pháp định cho việc thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam (Nghị định 86/2019/NĐ-CP). Ngân hàng Nhà nước cũng có quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; tỷ lệ khả năng chi trả; tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi... (Thông tư 22/2019/NHNN).

Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các NHTM trong thời gian vừa qua cho thấy, có rủi ro đáng chú ý là cuộc đua lãi suất trong nhóm NHTM quy mô nhỏ nhằm bảo đảm các quy định an toàn và giải quyết khó khăn thanh khoản. Điều này cho thấy, các quy định về giới hạn, bảo đảm an toàn còn thiếu vắng các quy định về hạn mức huy động cho từng nhóm ngân hàng có mức vốn pháp định khác nhau. Khi các NHTM huy động nguồn vốn lớn hơn rất nhiều vốn tự có nhưng chỉ cần phát sinh nợ xấu ở một vài khách hàng lớn, sẽ dẫn tới tình trạng mất khả năng thanh toán, thậm chí dẫn tới mất khả năng thanh khoản dây chuyền trong hệ thống ngân hàng. Việc quy định mức dự trữ bắt buộc đối với hoạt động cấp tín dụng, cho vay không có ý nghĩa nhiều vì thực chất số tiền dự trữ bắt buộc đó không phải nguồn vốn tự có của ngân hàng mà là nguồn vốn huy động.

Vì vậy, Chính phủ cần có quy định về hạn mức huy động tín dụng căn cứ vào nguồn vốn tự có/vốn pháp định của các NHTM với mức huy động tối đa từ 3-5 lần vốn pháp định của ngân hàng. Kiến nghị về mức huy động tối đa này căn cứ vào Quyết định số 13/2018/QĐ-TTg ngày 6/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về điều kiện, hồ sơ, trình tự đề nghị chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Việc tính toán mức huy động tối đa cụ thể trên vốn pháp định sẽ do Ngân hàng Nhà nước đề xuất.

Thực hiện biện pháp này sẽ chấm dứt tình trạng huy động vốn bằng mọi cách, tiềm ẩn nguy cơ mất kiểm soát về thanh khoản, rủi ro tín dụng cao; đồng thời tạo điều kiện để hạ lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho DN giảm chi phí vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thực hiện các biện pháp bảo đảm cân bằng thị trường tín dụng và thị trường vốn, khuyến khích DN niêm yết trên sàn chứng khoán

Thực hiện các biện pháp bảo đảm cân bằng thị trường tín dụng và thị trường vốn, khuyến khích DN niêm yết trên sàn chứng khoán. 

Ngân hàng ưu tiên cho vay trung và dài hạn với lãi suất thấp các đơn vị đã niêm yết trên sàn chứng khoán. Cho vay theo quản trị dòng tiền (thay đổi căn bản phương thức kinh doanh của hệ thống ngân hàng hiện nay đang cho vay dựa trên tài sản thế chấp).

Hệ thống NHTM cần quy định khống chế số dư nợ của DN ở mức rất thấp để khuyến khích các DN muốn làm ăn lớn phải huy động vốn trên sàn chứng khoán. Điều này, một mặt buộc DN phải thay đổi thói quen vay vốn từ ngân hàng, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng do nguồn vốn tự có của các NHTM Việt Nam rất thấp, trừ một vài ngân hàng có số vốn từ 1-5 tỷ USD, còn đa số ngân hàng cổ phần Việt Nam có vốn khoảng 500 triệu USD. Bởi nếu ngân hàng tập trung vốn cho một DN sẽ rất rủi ro khi DN vay vốn của ngân hàng làm ăn thua lỗ, gây ảnh hưởng dây chuyền.

Nghiên cứu chính sách hạn chế tiền gửi tiết kiệm mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng để điều tiết dòng tiền nhàn rỗi trong dân cư từ kênh tiết kiệm sang các kênh đầu tư khác. Đây là chính sách khó thực hiện ở Việt Nam ở thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, về lâu dài thì chính sách này có tác dụng giúp hạ lãi suất cho vay của các NHTM, từ đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đồng thời có tác dụng đa dạng hóa các kênh đầu tư (phi tiết kiệm).

Đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu DNNN, trong đó trọng tâm là cổ phần hóa các DNNN

Hiện nay, tiến trình cổ phần hóa DNNN còn chậm, không bảo đảm tiến độ và danh mục do Chính phủ quyết định. Thậm chí, các DNNN sau cổ phần hóa cũng chậm thực hiện việc niêm yết trên TTCK với nhiều lý do khác nhau. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến tháng 9/2019 có tới 755 DNNN cổ phần hóa chưa thực hiện niêm yết, đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán, trong đó có tới 601 DN thuộc danh sách Bộ Tài chính đưa ra từ hai năm trước.

Chính phủ cần có biện pháp hành chính mạnh mẽ hơn để các DNNN sau cổ phần hóa phải thực hiện niêm yết, đăng ký giao dịch trên TTCK. Với việc đưa lực lượng DN này lên sàn, chắc chắn sẽ tạo ra “cú hích” quan trọng, tạo luồng sinh khí mới cho sự phát triển của TTCK.

Thực hiện quản trị DN hiện đại

Cần nhận thức rõ việc áp dụng quản trị DN hiện đại theo chuẩn mực quốc tế và minh bạch thông tin rất có lợi cho DN trong việc huy động vốn, xây dựng thương hiệu, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, cần thay đổi tâm lý, thói quen “cần vốn là nghĩ đến ngân hàng”, thay bằng thói quen huy động vốn trên TTCK vì chi phí thấp hơn nhiều so với vay vốn của ngân hàng với chi phí rất cao. Kể cả huy động vốn quốc tế rất dễ dàng do công ty được kiểm toán quốc tế công khai, minh bạch. 

Đơn cử, thời gian vừa qua các DN đã huy động vốn thành công trên TTCK như Vinamilk, FPT, VinGroup, Dược Hậu Giang, Masan, Kinh Đô, Vietjet Air... đều nhờ quản trị DN hiện đại theo chuẩn mực quốc tế và niêm yết sớm trên TTCK.

Với những giải pháp, chiến lược phát triển của nhà nước, doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn bền vững cho nền kinh tế. Nếu bạn có vấn đề gì thắc mắc về tài chính và các giải pháp huy động vốn, hãy liên hệ với Nguyenkimhung.com hoặc tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện về chiến lược nguồn vốn để nắm chắc được các kiến thức tài chính bền vững cho doanh nghiệp của mình.
 

Ý kiến của bạn:

Danh mục tin tức

Từ khóa